Nguyễn Quang Thân

Francais   English

TIỂU THUYẾT
TRUYỆN NGẮN

BÀI BÁO

ĐỌC GÌ HÔM NAY?

HỒ SƠ BÁO CHÍ
MY PHOTO GALLERY
ẢNH CHÂN DUNG NQT
TRANG DÀNH RIÊNG CHO GIA ĐÌNH

TÁI BẢN GIA ĐÌNH BÉ MỌN

 NXB phụ nữ vừa tái bản 

lần thứ 4 tiểu thuyết Gia 

Đình Bé mọn của Dạ Ngân

 với bìa mới 

(Giá 39.000 VND)


Sách của NQ Thân mới 

xuất bản  

NXB Văn Hóa Sài Gòn 

và công Ty First News 

vừa xuất bản tuyển 

tập truyện ngắn song ngữ VIỆT- ANH gồm 5 

truyện của Nguyễn 

Quang Thân ( Thanh Minh 

- Gió Heo May /  

Atumn wind - Vũ Điệu 

của cái bô / The Waltz 

of The Chamber Pot -  

Chân Dung / A Portrait -

 A woman at the bus station /Người đàn bà đợi ở bến xe - ) 

NXB Văn Hóa Sài Gòn 

256 trang Giá 32.000 VND

 

Nước nguồn xuôi mãi


Sách mới của DẠ NGÂN 

****

Tập truyện ngắn mới xuất bản 

của DẠ NGÂN gồm 20 truyện 

(Bệnh nhân định kỳ,Thời 

gian vĩ đại, Ngọn nến phập 

phồng, Nhìn từ phía khác 

Nàng ở đâu ra, Người thương

 mến, Hãy thương lấy chị tôi,

 Tiền của má, Trăng về, 

Tách cà phê số Tám,, Gặp ở 

Giáp Nước, Người duy nhất, 

Nước nguồn xuôi mãi, Khoang

 tàu chật quá, Cái ban công 

trống, Chỗ ngồi ưa thích, Tóc 

dài mấy lạng, Cùng trời cuối 

đất, Hôm ấy trời đẹp lắm) 

NXB PHỤ NỮ  2008 giá 32.000 VND 
 

TRANG WEB 

 DẠ NGÂN

& BẠN BÈ

Trần Nhương

Phong Điệp

Thu Nguyệt

Trang Hạ 

Nhật Tuấn

Lê Thiêu Nhơn

Trần Thanh Giao

Hội văn hóa TC Sơn

Bùi Trọng Liễu (PARIS)

Blog NQ Thân

___________________

 BÀI BÁO MỚI

của Nguyễn Quang Thân 

  

  • Trí thức và vua
  •  Bốn câu chuyện về Trần Thủ Độ 
  •  Thắng bại còn ở binh nhì
  • Một cuộc chạy trốn
  • Gáo và chuôi
  • Hồn ai hãy nấy giữ
  • Một Hà Nội xinh xinh, một Hà Nội vĩ đại? 
  • Ám ảnh còi cọc 
  • Lương và lương tâm
  • Khoảng cách 
  • Tiếng thét cụ Phan
  • Thương lắm Hồ Gươm  
  •  BÁO TẾT - BÁO TẾT - BÁO TẾT 
  •  Xuân Mậu Tý -  
  • Bài học Chu Văn An 
  • Khoảng cách 
  • Hơi ấm chậm trễ
  • Nghĩ về mấy chữ Nam Quốc Sơn Hà
  •  
  • Hồn Việt ở Bordeaux 
  • Vĩnh biệt Phù Thăng 
  • Vụ án hai cái phích nước
  •  Cao hơn hay dài hơn?
  • Thành tâm và bình đẳng trong đối thoại
  • Hoa tặng cho người mình sợ
  • Có nhiều cách làm nhục người khác 
  • Nếu đã lỡ đạo văn
  • Vỏ trứng hơi nhiều
  • Ý thức hay ổ gà
  • Nói để tồn tại
  • Cảm hứng
  • Suy nghĩ lại ở Ăngkor
  • Campuchia hồi sinh 
    từ đá
  •  Ví sao người ta 
    không muốn về hưu? 
  • Mặt trái của huân chương    
  • Những lá thư 
    đáng giá ngàn vàng 

  • Thương lắm tóc dài ơi ..  
  • Nguyễn Văn Vĩnh, 
  • người đi tìm giá trị văn hoá   

 

 

Xem tiếp BÀI BÁO

______________

 LINK

  • Thơ Nguyễn Công Trứ
  • Thơ Nguyễn Công Trứ 2
  • Thơ Huy Cận
  • Thơ Xuân Diệu
  • Nhạc Việt
  • Bonjour Viet Nam 
    Bonjour Viet nam 
     (autorun) 
    • J'espe`re (Marc Lavoane 
    -Phạm Quỳnh Anh) 
  • 3 VIDEO bai Shina
     no yoru (Trung Hoa dạ khúc) 
    do Wanatabe (1940) 
    và Lý Hương Lan
  • 29 VIDEO các thời kỳ của
     Lý Hương Lan  
    When shall you return? 
    (Hà nhật quân tái lai? do Amami Yuki và Ly Hương Lan)  
    • 4 bài Shina no yoru do Wanatabe Hamako,Kyu Sakamoto, Mishora 
    Hibari, và Khánh Ly ( VN) hát
  • Nước mắt mùa thu
  •  ( Nhạc và lời Phạm Duy - 
  • Khánh Ly) 
  • Giận mà thương ( dân ca Nghệ Tĩnh) 
  • Hồng hồng tuyết tuyết ( Thơ DươngKhuee -hát ả đào: 
     Quách Thị Hồ) 
  • Đôi mắt người Sơn Tây
  • Trăng khuyết (Tân Nhàn) 
NHÀ BÁO GẶP HẠN hay thời xui xẻo của nhà báo

Họ đấm vào cái gì? ( NQ Thân)

* Quả đấm để đời ( Lethieunhon.com) 

                 * Hoa Hậu Và Cú Đấm Của Người Con Rể Bà Tư Hường…(Huy Đức)

________________________________

*** Nhà văn Nhật Tuấn đọc thơ Nguyễn Đình Chính

(nguồn: lethieunhon.com)

BÀI BÁO MỚI CỦA NGUYỄN QUANG THÂN 

Đừng để rơi rụng tinh hoa>

Để trí thức mũ ni che tai, chỉ vâng váng dạ dạ, không muốn đóng góp hoặc chỉ nói những lời ba phải, vô bổ cho qua ngày đoạn tháng kiểu như Nguyễn Du thời làm quan, hoặc để người tài, người tốt bỏ đi chơi vì không được đóng góp cái tài của mình cho dân cho nước thì đó cũng là do lỗi của lãnh đạo. Anh làm thế nào mà để người ta sợ, người ta chán. Rốt cuộc thì dân với nước chịu thiệt, tụt lùi mà thôi! (TT&VH 10/08/2008)

>xem tiếp>> 

Trí thức không phải là gỗ

Cụ Khổng từng phán câu “dụng nhân như dụng mộc”. Nhưng ở một chỗ khác cụ lại nói một câu rất hay: “ Rất dễ dàng xông vào chỗ ba quân bắt sống soái giặc. Nhưng không dễ gì đoạt được cái chí của kẻ thất phu!” Chỗ này cụ nghĩ rất thánh, ngay kẻ thất phu (huống hồ trí thức), không phải và không thể là gỗ. >>xem tiếp>>

Giấc mơ của liệt sĩ Hàng triệu liệt sĩ của chúng ta đã mơ những gì trước khi họ ngã xuống? Họ không chiến đấu vì những bữa cơm hàng ngày, cũng không vì bả vinh hoa,. “Xanh cỏ hay đỏ ngực” chỉ là những câu nói đùa cho vui miệng của những anh binh nhì vui tính chứ không phải là giấc mơ thật của họ.>>xem tiếp>>

Trí thức và vua

(…)Ngày xưa vua không nghe lời nói phải của trí thức không phải vì vua không phân biệt được phải trái mà vì quyền lợi của vua và triều thần phù vua. Nếu biết đặt quyền lợi của dân của nước lên trên tất cả thì sử gia Ngô Sĩ Liên dũng cảm đã không phải hơn một lần than phiền và tiếc nuối cho một vài triều đại trong lịch sử nước nhà.( TT&VH 13/07/08)

>>xem tiếp>> 

Bông hoa mù...Nhưng em tôi “mù như những bông hoa”, hình ảnh trong một câu thơ của thi sĩ Tagore, em tôi không biết mình đẹp đến nhường nào. Tôi không có cớ gì để ghen tỵ, cũng chẳng có lý do gì để phân bì giữa cô em tôi với những nàng hoa khôi kiều diễm đến từ nhiều nơi trên thế giới. Tôi chỉ thoáng buồn.

>>xem tiếp>>

Nên học lại bài học quá khứ

Chuyện sáp nhập rồi lại buông ra gây không ít hậu quả xấu cho nền kinh tế và đặc biệt là sự ổn định bền vững của xã hội, bài học còn tươi rói. >>xem tiếp>>

Thắng bại còn ở binh nhì

Nhà văn Lev Tolstoi trong tiểu thuyết “Chiến tranh và Hòa bình” có nhận xét: "Ví như khi không may rơi vào ổ phục kích, chỉ cần một anh binh nhì đi trước hàng quân kêu to lên: “Bỏ mẹ rồi!” và quay đầu chạy lui là đại quân có thể bị tiêu diệt".  >>xem tiếp>>

_______________________________ 

Một cuộc chạy trốn?

..."chúng ta đang chứng kiến một cuộc di tản ngấm ngầm, lặng lẽ ngọt ngào hơn và cũng khác xa các cuộc trước, nhưng ẩn chứa nhiều yếu tố bất an cho tương lai nước nhà. Đó là những công dân Việt làm giàu nhiều cách nhờ giỏi kéo cái chăn vốn đã rách về phía mình. Họ vội quên ngay những người bị “hụt chăn” trên giường, dù miệng vẫn tụng niệm “niềm tin” nhưng thực tế thì đi tìm một cái ổ mới cho bản thân và con cháu.

(Báo TT&VH ngày 27/04/2008)     >>xem tiếp>>

________________________________

 

Không tùy tiện mang xách con người  

...Xin hãy chú ý đến con người trước lợi nhuận và tăng trưởng. Bởi vì nếu không vì con người thì tất cả những việc chúng ta làm là để làm gì? (TT&VH 13/04/2008)

>>xem tiếp>> 

_____________________________________________

Một Hà Nội xinh xinh, một Hà Nội vĩ đại?  Ca trù trên sân Văn Miếu Hà Nội 

Đó là khu phố cổ đang nứt ra như cái áo cũ ngoài một thân thể phì nộn ngoài tầm kiểm soát hoặc lười hoặc không có khả năng kiểm soát, là những công trình hãnh hỗ khoe cái xấu, cái thô kệch của mình bên Hồ Gươm, là một nếp sống kinh hoàng kiểu làng xã và được mang đến từ làng xã..(Báo TTVH 23/03/2008) >>xem tiếp>>

________________________________________________

 

 

BÀI BÁO (cũ hơn) CỦA NGUYỄN QUANG THÂN

 NÔNG  DÂN CÓ CẦN TIẾT KIỆM KHÔNG? 

Có người bảo tôi: “ Kêu gọi nông dân tiết kiệm là xúc phạm họ. Suốt cả mấy đời từ chiến tranh đến hòa bình, ai ăn xài lãng phí mặc ai, nông dân nói chung là vẫn nghèo, vẫn khổ, không biết chắt lót thì chết lâu rồi, mà có dư đâu để tiết kiệm?” Vậy tiết kiệm là để dành cho ai?

Bỗng dưng cá ao, tôm đầm tăng giá ầm ầm, nông bảo nhau mừng “trúng giá”. Thế nhưng bước ra khỏi nhà, đến chợ, ra tỉnh, lên phố, chưa kịp mừng đã thấy giá nào cũng phi lên trời như ngựa. Mà toàn những thứ không thể không mua. Với công nhân thì lương tăng không kịp giá chợ, với nông dân thì giá bán những thừ từ quê ra tỉnh không đuổi kịp giá những thứ phải mua từ tỉnh về làng. Chuyện đó người ta bảo là lạm phát.

Chắc chính phủ sẽ có cách ( dù rất khó ) để kìm giá, giảm giá cho công nhân đủ sống, nông dân sản xuất nông phẩm bán có lời. Nhưng hãy tự cứu mình trước khi Trời cứu. Chuyện dễ làm nhất mà làm được ngay là nông dân phải có nhiều thứ bán ra mà ít thứ phải mua vào. Tiết kiệm vẫn mãi mãi là quốc sách với một nước nghèo như nước ta.

Thời phân hóa học đắt và hiếm, nông dân dùng phân chuồng hay phân xanh ( ủ lá cây và phế phẩm nông nghiệp). Nay có giống mới, kỹ thuật canh tác mới, phải dùng nhiều phân hóa học mới có năng suất cao. Nhưng phân chuồng, phân xanh đi đâu cả rồi? Hầu như nhiều nơi người ta đã quên hẳn hai nguồn phân chẳng những rất tốt cho đất mà còn tốt cho cả chất lượng cây trồng. Trước đây, sức trẻ nông nhàn ở nông thôn vẫn có phong trào làm phân xanh, ủ phân chuồng. Nay thì khác, hễ rỗi là thanh niên nông thôn rủ nhau vào quán nhậu hay kéo nhau lên thị trấn đàn đúm chơi bời. Tôi đi cũng nhiều nhưng kể cả miền núi, hầu như không còn thấy những người quẩy quang gánh đi nhặt phân trâu bò trên đường làng hay mái đồi như trước kia. Trong khi đó có nhiều gia đình hay trang trại giảm bớt được rất nhiều tiền mua phân hóa học, cải tạo được đất, làm sạch môi trường nhờ sản xuất được nguồn phân tại gia.

Chuyện ăn xài của nông dân, nhất là trong lớp trẻ cũng có nhiều cái để nói. Khát vọng vươn tới một cuộc sống đầy đủ, đẹp và vui là chính đáng. Nhưng không ít thanh niên nông dân vẫn muốn đua đòi. Họ hạch sách bố mẹ phải tổ chức lễ cưới như thành phố. Cũng thiếp mời mấy lớp, cũng ô tô đón dâu dù chỉ đi từ làng này sang làng kia. Cũng thuê áo cưới, cũng trang điểm cô dâu hàng triệu đồng và mâm bát, cỗ bàn thì khỏi chê. Cái nết ăn xài ấy vốn không phải bản chất nông dân mà học đòi dân trên phố vốn có mức sống cao và mấy ông cán bộ tham nhũng. Nó không phải là bản chất cần kiệm của nông dân.        

Một bà mẹ ở Thái Bình có mảnh vườn “bằng lỗ mũi”, trong vườn có cái ao con con. Lúc rỗi mẹ lội ao vật bùn lên bờ trồng mấy lớp khoai nước. Trong chuồng có con heo nái, mẹ nấu cám lợn bằng thứ nước ao nhiều mầu mỡ chảy từ chuồng heo và đất vườn xuống. Quy mô VAC của mẹ chỉ nhỏ nhoi và đơn giản thế. Nhưng với đức tiết kiệm và tài xoay trở, mẹ nghèo nhưng không đói, không chao đảo khi giá cả leo thang, bình thản nuôi con khôn lớn, học hành.

Mô hình ấy có lẽ không còn thích hợp với thời sản xuất lớn nhưng cái đức tiết kiệm ấy là cả một bản sắc văn hóa tốt đẹp thì không nên bỏ mà cần phải phát huy, nhất là vào thời buổi kinh tế khó khăn. ( Báo NTNN  28/03/2008) NQT

Tin mừng cho nông dân

Nguyễn Quang Thân

Chừng một tháng nữa. vệ tinh thông tin của chúng ta VINASAT-1 sẽ vào quỹ đạo địa tĩnh. Nhà nước đã đầu tư 169 triệu đô la, tương đương 2500 tỷ đồng. Tính theo đầu trâu theo kiểu nhà nông, con vệ tinh này có giá bằng 25 vạn con trâu tức là bằng mười phần trăm đàn trâu của cả nước. Chắc chắn phải rất quan trọng, rất có lợi nhà nước ta mới bỏ ra mét số tiền đầu tư lớn như thế.

Đăc biệt với nông dân, đây thật sự là một tin mừng. Bởi vì có vệ tinh “cây nhà lá vườn” thì VNPT có thể phủ sóng toàn quốc, từ những vách núi của người Mông trên Mù Cang Chải đến những con tàu đánh cá trên biển Cà Mau. Có sóng vệ tinh nhà thì như có trâu nhà đi cày, máy tuốt lúa nhà, không phải đi thuê, giá sẽ rẻ hơn nhiều ( Tất nhiên cái này còn chờ mấy ông VNPT, nếu mấy ổng ham tiền lương tiền thưởng mà đội giá lên như người ta đội giá thuốc tây thì tôi không dám chắc là sẽ rẻ).

Sóng vệ tinh rẻ và phủ khắp thì bất kỳ nơi nào cũng có thể đầu tư thiết bị mặt đất để xem TV, nói chuyện điện thoại ( cố định và di động), sử dụng internet đủ kiểu. Về TV, di động thì bà con dùng nhiều rồi, chắc cũng đã biết cái lợi của nó. Riêng Internet là có vẻ như còn khá xa lạ với nông dân. Từ ngày có internet tới nay, những vùng cần khai hóa nhất, đói thông tin nhất như vùng sâu vùng xa thì lại không có mạng. Và nếu có, thường qua giây điện thoại thì giá dịch vụ quá đắt, người giàu còn không chịu nổi huống chi người nghèo. Đó là chưa kể có những vùng dù có tiền cũng không thể có internet vì không có sóng. Thành ra nước cứ chảy về chỗ trũng, thành phố lớn đã no ứ thông tin thì trang bị công nghệ tận răng. Nông thôn đang cần soi sáng để văn hóa, thông tin được đổi đời thì đành ôm hận.

Có lẽ nhiều người đã biết và cũng nhiều người đã nói về lợi ích của Internet. Có thể dùng một ví dụ. Khi một người sử dụng Internet ( gọi là vào mạng) là họ từ hang núi hay vườn nhà bước vào xa lộ thông tin của toàn thế giới. Lúc đó ai cũng bình đẳng như ai về thông tin. Dù anh là một nông dân ở Lào Cai hay Cà Mau, anh cũng biết tất cả những điều mà một sinh viên hay một bà nội trợ Mỹ hay Pháp biết vào thời điểm đó. Đương nhiên không nói về trình độ để biết và xử lý thông tin, tức là khả năng sử dụng internet thì không thể nói ai cũng như ai.

Tôi cam đoan là khi internet về làng thì nông thôn sẽ có bộ mặt và một cuộc sống khác hẳn trước đó, cứ như từ bóng tối ra ánh sáng vậy. Nông dân ít ra thành phố tìm việc hơn, lớp trẻ sẽ yêu làng quê của mình hơn. Vì internet sẽ kéo theo cửa hàng cho truy cập mạng, cửa hàng bán linh kiện, sửa chữa máy tính và bao nhiêu việc làm khác. Internet sẽ quyến rũ trí thức về làm việc và sống ở nông thôn, cán bộ sẽ chăm đi công tác nông thôn hơn. Vì internet là thứ nghiền, có rất nhiều người tuyên bố rằng cuộc sống sẽ quá vô vị và thiệt thòi nếu không có internet, rằng họ không thể sống và làm việc bình thường nếu không có internet. Đó là chưa kể, khi chính phủ điện tử hình thành hoàn chỉnh thì internet sẽ là bắt buộc đối với tất cả cơ quan chính quyền, đoàn thể, hoạt động xã hội ở cấp thôn, cấp xã.

Nói không thể hết cái cần và cái lợi của Internet về nông thôn. Cho nên hãy mừng cho VNSAT-1, chúc phóng thành công và mong VNPT giữ lời hứa đưa internet về nông thôn với giá rẻ cho nông dân được nhờ.         

Lương và lương tâm

Trong những cuộc phỏng vấn tìm người làm thuê, những ông chủ thông minh thường chọn những người đề nghị mức lương cao. Bởi vì đó là những người tự tin, có khả năng và khi trả lương cao, các ông chủ có quyền đòi hỏi người lao động làm việc tốt để đáp lại. Hơn ai hết họ biết “của rẻ là của ôi” và “ nhanh nhiều tốt rẻ” là một ảo tưởng vĩ đại nhất của lịch sử loài người. Đó là việc trao đổi ngang giá tiền và sức lao động.

Nhưng bất kỳ ở chế độ xã hội nào, tiền lương không chỉ đơn giản là chuyện trao đổi ngang giá. Người ta sống vì bánh mì nhưng “không chỉ vì bánh mì”. Xã nội nào thì ai cũng phải kiếm tiền, thật nhiều tiền, nhưng người ta sống “không chỉ biết kiếm tiền, thật nhiều tiền”. Cho nên tiền lương lạnh giá hơi đồng còn có sức nóng của trái tim.

Đó là, người lao động nào, từ một anh công nhân hay viên chức quèn đến các ông lãnh đạo đều nên tự vấn: “ Mình đã làm gì để xứng đáng với đồng lương và cương vị được xã hội trao phó ( thực ra cương vị nào cũng làm ra tiền và tiếng Việt gọi một cách ngắn gọn, thông minh nhưng có chút đạo đức giả là bổng lộc, lương và bổng). Vlađimia Putin, để thanh minh tiếng đồn rằng ông là người giàu nhất nước Nga vừa nói trong cuộc họp báo cuối cùng rằng, hai nhiệm kỳ qua ông làm việc từ sáng đến khuya “như một người nô lệ”. Thật khó cân đong đo đếm xem “người nô lệ Putin” đã làm gì cho nước Nga gần 10 năm qua để sống như là người ‘có quyền lực nhất” và có thể “giàu nhất” nước Nga. Nhưng dân Nga và thế giới đều thấy ông là một tổng thống “làm tròn nhiệm vụ”, người đã thực hiện được lời hứa trong lễ nhậm chức đầu tiên là sẽ làm cho nước Nga được kính trọng trên hoàn cầu. Xin đừng dùng những từ đao to búa lớn mà có thể nói như người nông dân Việt Nam rằng ông Putin thật “đáng đồng tiền bát gạo” trong hai nhiệm kỳ tổng thống Nga vừa qua.

 Chúng ta đã bị trả giá và biết quá rõ lương thấp là nguyên nhân cơ bản nhất của năng suất lao dộng thấp, của tình trạng tha hóa trong dội ngũ người lao động, “bụng đói thì đầu gối phải bò” kể cả bò vào nhà đá bóc lịch. Cạnh tranh đầu tư bằng giá lao động rẻ mạt chỉ là một biện pháp tình thế tạm thời vì nó sẽ dẫn tới tan rã, kiệt quệ cả thể xác lẫn tinh thần của đội ngũ lao động, vốn quý nhất của xã hội. Để tăng lương thì ai cũng biết là phải bớt người đi, không xã hội bình thường nào có thể nuôi với mức lương cao  một bộ máy “bộ tứ” như ta. Trong khi lương thấp là vấn đề không chỉ giải quyết trong một ngày thì mỗi người lao động cần tự vấn và tự trả lời xem ta đã làm gì và đã hưởng lương(và bổng) gì” rồi cũng tự mình cho mình một giải pháp nhằm giúp đỡ gánh nặng cho xã hội.

Một số người đã tự có giải pháp. Họ đã viết đơn ra khỏi một số cơ quan nhà nước không phải chỉ vì lương mà còn vì lương tâm. Họ là người tài nhưng không được dụng võ. Sếp của họ không xứng đáng chỉ huy họ, sàng lọc, chọn lọc kiểu gì mà bèo bọt lên trên, vàng ngọc rơi xuống nia hết. Nếu ở lại họ sẽ phải đương đầu với chuyện lương (và lương tâm}. Lương thì thấp còn lương tâm thì luôn cắn rứt. Cắn rứt vì có tài mà không được dùng giúp dân giúp nước, không được hưởng (một cách chính đáng) cái tài của mình. Tình trạng ấy khá phổ biến và chúng ta ước gì nhà nước có biện pháp gì thật hiệu quả để “giảm biên chế” nhưng những người xin ra là những người không xứng đáng  chứ không phải là họ.(TT&VH 17/02/2007)         

Hồn Việt ở CAFI   

(báo Lao Động cuối tuần số 7 17/02/2008) 

(LĐCT) - Bordeaux 2004. Đó là một buổi chiều buồn buồn, trong vắt, se lạnh. Tôi đến Saint Livrade, một thành phố cổ nhưng quá nhỏ trong số 6000 thành phố của nước Pháp.

Mấy ai biết Saint Livrade là đâu cho đến khi khu trại CAFI (Centre d'acceuil des Francais d'Indochine - Trung tâm Đón tiếp những người Pháp Đông Dương), được báo chí Paris đưa lên trang nhất.>>xem tiếp>>

Cái có lý và cái vô lý của Tết

Ngay từ nửa thế kỷ trước, cụ cử Phan Kế Bính cũng đã nhận xét rằng, giới có học người Việt đã quá chán với cái Tết cổ truyền. Họ muốn thay đổi cách ăn Tết đi mà không được. Khi phong trào Âu hóa lan rộng và ăn khá sâu trong đời sống, đã có nhiều cố gắng để làm người ta chú ý đến Tết dương lịch và những ngày lễ có “thương hiệu quốc tế” của châu Âu châu Mỹ như Nô-en, Lễ Tình yêu Valentine v.v. cho nhẹ bớt cái Tết cổ truyền đi. Vậy mà xem chừng vẫn thất bại.

Quả thật ngày xưa ăn Tết to còn khả dĩ vì xã hội nông nghiệp ắt có cách ăn Tết kiểu nông dân. Rất ít người đi khỏi làng làm ăn xa, người ta chỉ có hai nghề chính là làm ruộng và làm quan. Ăn Tết tha hồ đủng đỉnh vì số người phải về quê cúng bái ông bà tổ tiên rất ít, Tết lại rơi vào cảnh nông nhàn vì ăn Tết xong nông dân mới bắt đâu làm vụ chiêm. Cho nên “tháng giêng là tháng ăn chơi”, con Rồng cháu Tiên tha hồ đủnh đỉnh, kéo dài cái Tết cả tháng với “hội hè đình đám, lên núi Thiên Thai, qua chùa Bút Tháp, đến Hội Lương Tài” ( thơ Hoàng Cầm), ăn chơi, lễ lạt thả giàn, thoải mái.

Cuộc sống hôm nay không còn như trước nữa. Hàng triệu nông dân rời quê ra thành phố làm ăn, nhất là vào miền đất mầu mỡ Nam Bộ cách hàng ngàn cây số. Hàng triệu lao động chân tay và trí thức làm việc cho công ty nước ngoài, họ không biết âm lịch là cái gì. Nền kinh tế nông nghiệp đang chuyển mạnh sang sản xuất hàng hóa với kỹ thuật hiện đại, máy móc thường chạy 24/24 giờ, không dễ dàng gì xếp lại để ăn Tết như đối xử với một thửa ruộng ở quê, không cày hôm nay thì mai, cũng chưa chết ai.

Ăn Tết, lễ hội, con cháu đi xa cứ đến Tết là về quê, trước là thắp hương bàn thờ tổ tiên, sau là để xum họp gia đình. Tết như một lời hẹn thầm nhưng thiêng liêng, là niềm tin, niềm an ủi cho tất cả sau một năm làm ăn và bươn chải cực nhọc. Tết cũng là dịp trở lại làng hâm nóng kỷ niệm và tâm thức Việt Nam vẫn có nguy cơ phai nhạt theo năm tháng. Tết đã ăn sâu vào tiềm thức dân gian, vào ký ức của nhiều thế hệ, vào “gien” truyền thống của dân tộc, khó mà thay đổi, càng khó mà bỏ đi. Ý tưởng muốn người Việt hay người Trung Quốc lấy Tết dương lịch làm chính hay chỉ ăn Tết dương lịch không thôi thực sự là ảo tưởng, chắc chắn sẽ phá sản. Đó là cái có lý của Tết.

Nhưng cái vô lý cũng nhiều. Tết gây ra “cháy xe”, ùn tắc, gian nan cho hàng triệu người  trên từng cây số đường thiên lý, làm nhiều cơ quan tê liệt cả tháng trời, nạn "cháy lao động" sau Tết cho các nhà máy hiện đại. Tết từ lâu đã trở thành mối lo, nỗi nhuc và tủi thân cho người nghèo, nỗi bức xúc của kẻ tội phạm ( gây án lấy tiền ăn Tết), Tết cũng đào sâu cái hố lạnh lùng giữa kẻ ăn không hết với người làm không ra. Tết cũng sinh ra và khuyến khích thêm tệ cờ bạc, rượu chè…

Không thể bỏ Tết nhưng có thể hợp lý hóa cách ăn Tết. Ví như có thể hai năm mới về quê ăn Tết một lần, để ra một cái Tết đi du lịch cho biết đó biết đây. Ví như người giàu nên lấy việc làm từ thiên nhân dịp Tết làm niềm vui ăn Tết. Ví như không dồn lại mua sắm các thứ vào dịp Tết…Mỗi người hành động khác đi một chút cũng có thể làm thay đổi một điều tưởng như rất khó đổi thay. (NTNN 15/02/2007)

Không thể như ruồi muỗi

Khi ngồi lên xe máy, xe đạp ra đường, chúng ta coi mạng sống của mình như lông hồng, nhẹ quá chăng?

Không nhẹ sao được khi năm vừa qua đã có trên 13.000 con Rồng cháu Tiên chết vì tai nạn giao thông và hơn 10.000 bị thương sống dở chết dở. Có nghĩa là mỗi năm có hàng chục gia đình tang tóc, góa phụ và trẻ mồ côi. Hàng ngàn tỷ đồng mồ hôi nước mắt đốt thành mây khói trong các đám tang và bệnh viện. Tôi không có thống kê chính xác nhưng có lẽ một cuộc chiến khốc liệt như cuộc chiến Irắc, số tử vong chắc cũng chỉ đến thế.

Vậy là, chỉ nói về thương vong, chúng ta đang thật sự có một cuộc chiến giữa người và người, giữa xe cộ và đường sá trên mọi đường thiên lý. Thật có lý khi Thủ Tướng đặc biệt quan tâm đến an toàn giao thông vì nó đã trở thành một hiện tượng không thể chấp nhận được trong một xã hội bình thường. Tìm ra nguyên nhân và giải pháp cho vấn đề này đã thật sự cấp bách.

Tai nạn giao thông bao gồm bốn yếu tố: Cầu đường, Xe, công tác điều hành và Người tham gia giao thông. Nhìn sơ qua chúng ta thấy Nhà Nước ( chủ yếu là Bộ GTVT và Bộ Công An) chịu trách nhiệm ba trong bốn yếu tố gây ra tai nạn. Từ trước đến  nay chúng ta nói quá nhiều về Người tham gia giao thông mà ít đề cập hay truy cứu trách nhiệm của ba yếu tố còn lại. Như thế là chưa công bằng và đầy đủ. Những con đường rùa, thi công kéo dài, những ổ gà ổ voi, nắp cống… nhan nhản trên đường phố không được san lấp kịp thời, những cây cầu cũ mất an toàn nhưng vẫn không được cảnh báo. Rồi một loạt xe cộ không đủ tiêu chuẩn vẫn phù phép để được kiểm định qua loa. Những vị cảnh sát giao thông thay vi nghiêm khắc với lỗi của xe và người lại rất dễ dãi nếu được dúi tiền vào túi, những cán bộ phụ trách điều hành giao thông thiếu nghiệp vụ hay trách nhiệm…Tất cả những yếu tố đó thực sự đã đóng góp đến ba phần tư nguyên nhân dẫn tới tai nạn giao thông. Tại sao chúng ta chưa có những vụ đệ đơn kiện Sở GTCC vì phải tránh một hố ga không có nắp nên gây chết người hay truy cứu trách nhiệm một cơ quan kiểm định, một trạm kiểm soát giao thông vì đã cho lưu thông một chiếc xe không đủ tiêu chuẩn an toàn gây tai nạn?

     Với tư cách là những người tham gia giao thông, chúng ta đã quá vô trách nhiệm với sinh mạng của bản thân và của người khác ở trên đường. Cái ý thức coi đường phố như đường làng, coi cái chết nhẹ tựa lông hồng có lẽ chỉ thích hợp với chiến binh. Nhưng chúng ta đang xây dựng một cuộc sống hòa bình, bền vững và phát triển, chúng ta đang sống và tận hưởng cuộc sống văn minh chứ không phải chiến đấu trên đường phố. Sinh mạng của chúng ta quý giá chừng nào đối với bản thân, với gia đình và đất nước. Chúng ta không thể đi lại trên đường phố một cách vô tổ chức, vô luật lệ như ruồi muỗi. Chúng ta không phải là ruồi muỗi.  (TTVH  26/01/2008)

TRÁCH NHIỆM 

Trừ những xã hội quá thai như chế độ độc tài, phát xít, một xã hội bình thường sở dĩ tồn tại bình thường được là nhờ hai chữ “trách nhiệm”. Phong kiến thời thịnh trị thì vua ra vua, quan ra quan, cha ra cha, con ra con.

Trong xã hội dân sự, “trách nhiệm” này càng luôn được nhấn mạnh, được làm rõ. Đó là luật, là pháp lệnh, pháp quy…tất cả mọi người từ đỉnh cao chót vót đến phó thường dân đều phải có trách nhiệm theo luật pháp quy định. Cái trách nhiệm qua lại ấy là chất nhựa bền chắc kết dính một xã hội bình thường. Nó cũng giống như chất xảm thuyền, hỏng chỗ nào mà không trám lại ngay thì nước ùa vào, thuyền sẽ chìm vì ai đó trong thuyền…vô trách nhiệm. Xã hội thị trường còn một chữ “TRÁCH NHIỆM” to tướng và có lẽ quan trọng vào loại hàng đầu, đó là trách nhiệm qua lại giữa người sản xuất và khách tiêu dùng, người bán và kẻ mua. Tuy nhiên mối quan hệ “trách nhiệm tương hỗ” này vẫn ít được người ta nói đến hoặc quan tâm, thậm chí coi là chuyện vặt.

Đây không phải là chuyện vặt hay chuyện hàng tôm hàng cá tầm thường mà là một rường mối, kỷ cương liên quan đến sự sống còn của quốc gia, xã hội.

Người mua phải có trách nhiệm trả tiền, trả đầy đủ. Trả đến đâu sẽ được đáp ứng đến đó. Trả tiền rẻ, trả ít tiền thì được dùng hàng chóng hỏng, tác dụng ít hay lạc mốt. Trả nhiều thì hàng tốt, hàng đẹp. Mua vé hạng đắt tiền thì được ngồi nằm hay ăn uống tương xứng. Như mua táo ta hay vải thiều ở Trâu Quỳ, trả bao nhiêu tiền một kilo người ta cũng bán, nhưng “kilo” có thể là sáu trăm, bảy trăm gam tùy theo giá mà cả của khách. Những nơi bán hàng nhái có lương tâm đều ghi rõ hàng nhái, giá bao nhiêu, hàng chất lượng cao giá bao nhiêu. Nếu làm được thế cũng có thể tạm gọi người bán có chút lương tâm hoặc trách nhiệm. Thế nhưng buồn thay, chuyện này ngày càng trở nên hỗn độn.

Chuyện hàng hóa vật chất còn dễ biết. Lĩnh vực cán bộ khó nhận ra hơn. Không ít ông “sếp” ăn lương cao nhất cơ quan nhưng có vẻ như là người kém hiểu biết rất nhiều so với một số anh em dưới quyền, ăn không nên đọi, nói không nên lời, làm việc cũng nhàn hạ hơn, tài quản lý cũng kém hơn, chỉ có ăn chơi vi vu là nhiều hơn. Tiến sĩ, giáo sư cũng vậy, chuyện này báo chí cũng đã nói nhiều. Một ví dụ trong lĩnh vực phục vụ tin học. Có những ISP cung cấp dịch vụ ADSL gói này gói kia, quảng cáo rùm beng, thành tích phát triển rùm beng. Nhưng “trăm voi không được một bát xáo”. Ai đã dùng thì thấy rõ, ông nào càng phát triển nhanh “hàng đầu” (nhờ ưu thế hay khuyến mãi lớn) càng đáng sợ. Trình độ và việc làm của cán bộ không tương xứng với lương, giáo sư, học trò không tương xứng bằng cấp hay “ngồi nhầm lớp”, hàng hóa không tương xứng giá tiền hay quảng cáo, đó là thứ “vô trách nhiệm” đáng sợ nhất. Có thể nói vô trách nhiệm và kém minh bạch hơn cả các bà bán táo ở Trâu Quỳ. Nó có thể dẫn tới thảm họa cho cộng đồng mà ít người ngờ tới.

Thiết nghĩ còn gì nguy hiểm cho một quốc gia hơn tình trạng vô trách nhiệm tràn lan, thang biểu giá trị vật chất và tinh thần bị đảo lộn, hàng giả đắt hơn hàng thật, làm giả ăn thật, học giả bằng thật, người dốt nát ngồi lên đầu kẻ hiểu biết? (Báo Thể Thoa Văn Hóa 20/01/2007)

Nguyễn Quang Thân

 

Nan giải thân phận hàng rong

Trong chúng ta chắc nhiều người đã từng khó ngủ, trăn trở vì một tiếng rao đêm. Thật khó cầm lòng khi nhìn những em bé gầy nhom, những bà mẹ xanh xao, đẩy những chiếc xe bán hàng rong trên đường phố giàu có và sang trọng. Những lúc khó ngủ ấy, chúng ta nghĩ nhiều về những người nghèo “ở quê ra” kiếm sống, cố bươn chải giữa nơi gạo châu củi quế để tồn tại và tìm cơ may dành giụm được ít tiền gửi về quê. Cơ ngơi của họ cũng chỉ là một chiếc xe đạp phía sau đèo một rổ xôi, một cái bị cói đựng quần áo, chiếc xe đẩy hàng phần lớn là hàng dzỏm, hàng nhái, hàng lậu từ Trung Quốc, bán thuê cho một ông bà chủ nào đó. Họ, những người bán hàng rong, chỉ trả tiền trọ vài ngàn đồng ngày đêm để đổi lấy một chỗ vừa đủ đặt tấm thân gầy còm trên cái sạp nứa giữa đêm đông giá lạnh. Nước nôi, bếp núc, chỗ vệ sinh nam nữ có thể sánh với địa ngục, nếu  thật sự có một nơi gọi là địa ngục.

Thương xót, trắc ẩn nhưng chúng ta cũng đã từng bực mình, cáu giận khi đường phố tắc nghẽn, vỉa hè thành phố bị lấn chiếm, giữa đoàn xe, đoàn người chật ních xô lấn đẩy nhau ấy lại nghễu nghện một chiếc xe bán hàng rong! Và cũng không ít người trong chúng ta bị stress khi thấy cuộc chiến trên vỉa hè – giữa nếp sống văn minh và lạc hậu - đã diễn ra nhiều năm nay, vẫn bất phân thắng bại và tưởng như không bao giờ kết thúc.

Thành phố hiện đại, nhất là thủ đô Hà Nội và TP HCM, đã đổ bao nhiêu công sức, tiền của để sửa sang bộ mặt của mình, giải quyết tình trạng mất trật tự, hỗn loạn kiểu nửa làng nửa phố, nếp sống mất vệ sinh không chấp nhận nổi. Việc bước đầu dồn những  gánh hàng rong, chợ cóc vào những chỗ nhất định để rồi xóa bỏ hẳn trong tương lai là hết sức cần thiết. Không làm như vậy thì mãi mãi Hà Nội vẫn chỉ là một cái làng, không thể là đầu tàu cho đất nước hòa nhập vào thế giới văn minh, hiện đại. Lòng trắc ẩn ư? Vẫn phải nuôi dưỡng lòng trắc ẩn, tình thương với người nghèo, phải không ngừng làm mọi việc có hiệu quả để giúp đỡ người nghèo chứ không chỉ dựa vào lòng trắc ẩn. Mặt khác, càng không thể kéo dài mãi bộ mặt một thủ đô như hiện nay. Thật nan giải vấn nạn nông dân kéo ra thành phố kiếm sống, kiếm tiền và những gánh hàng rong!

Tuy nông thôn đã thay đổi nhiều, đời sống nông dân nói chung có khá hơn trước nhưng có vẻ như câu “một tháng nhà quê không bằng một ngày ngồi lê kẻ chợ” vẫn còn đúng. Bởi vì khoảng cách nông thôn – thành thị khá xa vời. Nông dân không muốn khoanh tay ngồi im trong cuộc sống đói nghèo và lạc hậu thâm căn cố đế. Ra thành phố là một xu hướng không cản được của bất kỳ quốc gia nào trong thời đại ngày nay và có ý nghĩa tích cực. Nhưng thành phố hiện đại không phải là làng quê, phải có điều kiện nhất định nhất là phải học hỏi để có đủ kỹ năng sống và thích nghi với nó.

Không thể đưa mức sống nông dân đi lên bằng những gánh hàng rong, những em bé “dạt vòm” để trả giá cho xu hướng đô thị hóa bằng một cuộc sống hỗn độn, mất vệ sinh và môi trường nuôi dưỡng tệ nạn nơi thành thị. Làn sóng đổi đời vô tổ chức ấy đã và đang kéo những thành phố quan trọng của đất nước thụt lùi về quá khứ. Vấn đề nằm trong tay tầm vĩ mô nhà nước và các tổ chức xã hội. Nhưng trước hết, tôi nghĩ là thuộc về nông dân. Họ phải tự suy nghĩ, vật lộn để đổi đời trên miếng đất yêu quý của mình như nhiều tấm gương sáng ta đã biết. Họ không nên nghĩ rằng ra thành phố kiếm sống và ăn ở bằng bất kỳ giá nào là lối thoát tốt nhất hay là duy nhất của người nông dân. Nông dân sống bằng miếng đất, hãy cày xới kỹ nó để có cuộc sống tốt đẹp.(NTNN 18/01/2008)  

 

 

MỘT SỐ BÀi ĐÁNG CHÚ Ý TRÊN CÁC TRANG WEB BẠN

    • Một bài báo hay của ký giả THOMAS A. BASS về nhà tình báo lỗi lạc Phạm Xuân Ẩn: Một cái nhìn từ bên ngoài
    • Đái bậy ở Việt Nam (Trang Hạ)
    • Niệu liệu pháp ( Nguyễn Quang Lập)
    • Lê Huy Ngọ trong vai Nông dân (Huy Đức)
    • Tố Hữu và Trần Dần ( Huy Đức) 
    • Nhớ Tố Hữu ( hồi ức của Nhà văn Nguyễn Quang Lập)
    • Vì sao nhiều trẻ em chán sống (2) (Tienphongonline.vn)
    • Vì sao nhiều trẻ em chán sống? (1)(Tienphongonline.vn)
    • Bạn thơ trăm năm vội vã ( lethieunhon.com) 
    • Nên có ngày 2 tháng Tư để nói thật ( Trannhong.com)  
    • Bài phản pháo của Mai Quốc Liên (Trần Nhương.com)
    • Hai lá thư của GS Nguyễn Huệ Chi vè vụ Trần Dần - Thơ (Trannhuong.com)
    • NHÀ VĂN ĐÌNH KÍNH: "TÔI KHÔNG TIN CHUYỆN CHUYÊN CƠ TRÊN WEB SITE TRAN NHUONG.COM"
    • CHUYÊN CƠ! CHUYÊN CƠ! THỜI SỰ THỜI LẠM PHÁT( Trên Blog Nhà thơ Nguyễn Trong Tạo)
    • Giáo sư Chu Hảo: Trí thức cần môi trường để vẫy vùng (lethieunhon.com)
    • NGUYỄN QUANG THÂN trên WEB SITE Ăn Mày Văn Chương(PHAN HUY ĐƯỜNG giới thiệu )   (Nguồn: Ăn Mày Văn Chương) 
    • Trân trọng giới thiệu trang WEB của GS Bùi Trọng Liễu (Paris) với những tác phẩm tâm huyết với nền giáo dục nước nhà của một người con xa xứ 
    • Lạm phát ở ZIMBABUE, bi hài kịch của đồng tiền (Neww York Times) 
    • Bản thông báo về những người nông dân ( Nguyễn Quang Thiều - Vietime) 
    • Luy Lâu:Thượng nguồn dòng sông Phật giáo Đông Á ( Phan Cẩm Thượng - Vietime)
    • Đất Khổ, một bộ phim bị bỏ quên (lethieunhon.com) 
    • Tám mươi năm sông Đông êm đềm  (Phamxuannguyen'blog)
    • Nguyễn Quang Sáng về làng (Phongdiep.net)
    • Phỏng vấn nhà văn Tạ Duy Anh  (Lethieunhon.com)
    • Tiểu thuyết sex trong thư tịch cổ Việt Nam (Lethieunhon.com)
    • Học giáo dục công dân như học triết(VietNamNet) – Nguyên 1 học kỳ của chương trình lớp 10, HS phải học nội dung chủ nghĩa Mac – Lênin. Đến tiết học, nhiều em tranh thủ ngủ bù hoặc xin nghỉ tiết vì… bị bệnh.  
      • Thử bào chữa cho hoàng đế Lê Long Đĩnh Lê Ngọa Triều (Thanhnien.com)

____________________________________________ 

Một bài báo về NQ Thân trên Tiền Phong cuối tuần 07/06/2008

Người Khát sống

                                                                                                       Hoài Nam

     Từ khi còn là một cậu bé học tiểu học, một trong những cuốn sách tôi thích nhất, thích đến nỗi đọc đi đọc lại nhiều lần mà không thấy chán, là cuốn Chú bé có tài mở khoá. >>xem tiếp>> 

________________________________________  

Vì sao tôi không thể giúp anh?

Nhà báo Võ Đắc Danh, tác giả của nhiều bài báo nổi tiếng vừa gửi cho tôi bức thư ngỏ gửi ông Hai Bình bí thư tỉnh ủy Cà Mau để đăng tải trên Website này( NQT ) 

Kính gởi Anh Hai Bình ! >>xem tiếp>

 NGUYỄN THỊ THÚY HẰNG ( *)

Cái hài và bi kịch người trí thức trong truyện ngắn Vũ điệu của cái bô.  (xem tiếp)


______________________


TIỂU THUYẾT GIA ĐÌNH BÉ MỌN (An Insignificant Family)